THÔNG TIN VỀ AXIT HYPOCLORƠ

Axit hypoclorơ là dung dịch diệt khuẩn được tạo ra từ máy điện phân tạo nước khử trùng của chúng tôi, thông qua các thiết bị: PG-3.0, Well Clean-Te, Aquacid và Serius.  Hãy cùng OSG & TU-SEIKI tìm hiểu Axit hypoclorơ là gì, được tạo ra như thế nào? Lý do tại sao Axit hypoclorơ được coi là chất diệt khuẩn an toàn và hiệu quả nhất hiện nay?

1200px Hypochlorous Acid 2d Dimensions.svg
Tên tiếng anh
Hypochlorous acid, chloric(I) acid, chloranol, hydroxidoclo 
Tên gọi khác
Hydrogen hypochlorite, clo hydroxide, nước điện phân, nước điện phân oxi hóa, nước kích hoạt điện 
  • Số CAS: 7790-92-3
  • Khối lượng Phân tử: 52.46 g/mol
  • Công thức Phân tử: HClO hoặc HOCl
  • Dạng: Dung dịch nước không màu 
  • Độ hòa tan trong nước: Hòa tan 
  • Tính axit : 3 – 7.5

 

 

Axit hypoclorơ là gì?

 

Axit hypoclorơ là một axit yếu tương tự như của nước ép cam quýt nhẹ. Đây là một chất oxy hóa được sản sinh tự nhiên bởi bạch cầu trong máu của tất cả động vật có vú để tự chữa lành và bảo vệ cơ thể. Nước axit này cũng có thể được tạo ra bằng phương pháp điện phân để ứng dụng làm chất tẩy rửa, sát khuẩn và khử trùng trong thương mại và công nghiệp.

 

Công thức hóa học của axit hypoclorơ là HClO, trong một số ngành công nghiệp axit hypoclorơ còn có công thức là HOCl.

Trong cơ thể con người:
Axit hypoclorơ đóng vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch khi tiêu diệt các mầm bệnh nhờ quá trình oxi hóa và clo hóa, có hiệu quả mạnh mẽ trong việc chống vi khuẩn xâm nhập, nấm và vi rút.

Trong đời sống:
Axit hypoclorơ thường được sử dụng làm chất tẩy trắng, chất khử mùi, chất sát khuẩn và chất khử trùng trong y tế, an toàn thực phẩm, xử lý nước và vệ sinh chung. 

Theo các nghiên cứu khoa học, Axit hypoclorơ là chất oxi hóa mạnh mẽ và ổn định, có khả năng tiêu diệt mầm bệnh do vi khuẩn hơn gấp 80 lần (giá trị lý thuyết) so với Ion hypoclorit (thành phần chính của Natri hypoclorit hay còn gọi là chất tẩy trắng). 

Hocl 300x267
Tính chất hóa học

Axit Hypoclorơ  

Danh pháp IUPAC : Axit Hypochlorous, axit chloric(I), chloranol, hydroxidoclo 
Tên Khác : Hydrogen hypochlorite, clo hydroxide, nước điện phân, nước điện phân oxi hóa, nước kích hoạt điện 
Số CAS : 7790-92-3
Khối lượng Phân tử : 52.46 g/mol
Công thức Phân tử : HCLO
Dạng : Dung dịch nước không màu 
Độ hòa tan trong nước : Hòa tan 
Tính axit : 7.53
 

Điện phân 

Trong hóa học và sản xuất, điện phân là kỹ thuật sử dụng dòng điện một chiều trực tiếp để điều khiển phản ứng hóa học không tức thời. Điện phân là bước thương mại quan trọng trong việc tách các nguyên tố từ các nguồn có sẵn trong tự nhiên. Điện phân natri clorit (NaCl) và nước (H2O) để tạo ra axit hypochlorous. Công nghệ điện phân được Michael Farraday giải thích lần đầu tiên khi ông phát triển Định luật Điện phân vào những năm 1830.  Tiến hành đưa dòng điện qua hai cực của dung dịch muối để tạo ra khí clo, natri hypoclorit (chất tẩy hoặc NaOCl), axit hypoclorơ , natri hiđroxit (NaOH), khí hiđrô (H2), khí ô-zôn (ozone), và các dấu vết của các chất oxi hóa mới. 
 
Qua trình cốt lõi của điện phân là biến đổi các nguyên tố và ion bằng cách gỡ bỏ hoặc thêm vào các electron từ dòng điện bên ngoài. Điện áp được đặt vào thông qua cặp điện cực được nhúng vào chất điện phân. Mỗi điện cực hấp thu ion tích điện ngược dấu.  Ion tích điện dương (cations) di chuyển về cathode (điện tích âm). Ion tích điện âm (anions) di chuyển về anode (điện tích dương). Trong hóa học, việc mất electron gọi là quá trình oxi hóa, ngược lại tăng electron gọi là quá trình khử. 
 
Ví dụ, bước đầu tiên để tạo axit hypoclorơ là quá trình điện phân nước muối để tạo khí hydro và khí clo, sản phẩm là các chất khí. Sản phẩm dạng khí thoát ra dưới dạng bong bóng từ chất điện phân và được thu lại.  

2 NaCl(s) + 2 H20(l) → 2 NaOH(aq) + H2(g) + Cl2(g)

 

Công nghệ Màng Tế bào 

 

Cơ sở hóa học của Điện phân Màng Tế bào Chemistry of Membrane Cell Electrolysis
 
Màng chuyển ion được tạo từ polymer chỉ cho phép các ion dương chạy qua. Có nghĩa là chỉ có ion natri từ dung dịch natri clo có thể chạy qua màng, và không phải ion clo.  Ưu điểm của phương pháp này là dung dịch natri hydroxide được hình thành ở ngăn bên phải không bị nhiễm bẩn với dung dịch natri clorua bất kỳ.  Dung dịch natri clorid được dùng phải tinh khiết. Nếu có chứa bất kỳ ion kim loại nào, những ion này sẽ đi qua màng và làm nhiễm bẩn dung dịch natri clorid. 
 
Khí hydro được sản sinh ở cathode:
2H+(aq) + 2e- → H2(g)

Sodium hydroxide được sản sinh ở cathode:
Na+(aq) + OH-(aq) → NaOH(aq)

Chlorine được sản sinh ở anode :
2Cl-(aq) – 2e- → Cl2(g)

Nó bị nhiễm bẩn do khí oxi vì phản ứng:
4OH-(aq) – 4e- → 2H2O(l) + O2(g)

Bổ sung thêm clo vào nước cho ra axit hydrochloric (HCl) và axit hypoclorơ (HCLO):
Cl2(g) + H2O ⇌ HCLO(aq) + HCl(aq)
Cl2(g) + 4 OH− ⇌ 2 ClO-(aq) + 2 H2O(l) + 2 e−
Cl2(g) + 2 e− ⇌ 2 Cl-(aq)

 
 
Độ pH quyết định dạng clo tự do hiện diện trong dung dịch nước.  Ở pH 5-6, dạng clo là gần 100% axit hypoclorơ (HCLO). Khi pH xuống 5, nó bắt đầu chuyển thành khí Cl2 (khí clo). pH trên 6, nó bắt đầu chuyển thành ion hypoclorit (OCl-).
 
pH Chlorine tự do Free Chlorine pH
 
Axit hypoclorơ là axit yếu (pKa khoảng 7,5), nghĩa là nó phân ly thành khí hidro và ion hypoclorit được ghi trong phương trình: : HCLO ⇌ H+ + OCl-
 
Trong khoảng pH từ 6,5 đến 8,5, quá trình phân ly không hoàn toàn và cả HCLO và OCl- đều có mặt ở mức độ nhất định pH dưới 6,5, phân ly HCLO không xảy ra, trong khi đó pH trên 8,5, xảy ra phân ly hoàn toàn thành OCl- . 
 
Vì hiệu quả diệt khuẩn của HCLO cao hơn OCl-, clo hóa ở pH thấp hơn được ưu tiên. Hiệu quả diệt khuẩn của axit hypoclorơ (HCLO) cao hơn hiệu quả diệt khuẩn của ion hypoclorit (OCl-). Phân bố các dạng clo giữa HCLO và OCl- do pH quyết định như đã thảo luận ở trên. 
 
Vì HCLO chiếm ưu thế ở pH thấp, khử trùng bằng clo hiệu quả hơn ở mức pH thấp. Khi pH cao, OCl- chiếm ưu thế, làm giảm hiệu quả diệt trùng.  
 

Vô hoạt Vi khuẩn 

Chlorine là chất tẩy trùng cực kỳ hiệu quả để vô hoạt vi khuẩn  Một nghiên cứu được tiến hành trong thập niên 1940 điều tra mức độ vô hoạt dưới dạng hàm số của thời gian đối với vi khuẩn E. coli, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella typhi, và Shigella dysenteriae  (Butterfield et al., 1943). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng HCLO hiệu quả hơn OCl- trong quá trình vô hoạt vi khuẩn  Các kết quả này đã được một số nhà nghiên cứu xác nhận và kết luận rằng HCLO hiệu quả từ hơn từ 70 đến 80 lần so với OCl- trong quá trình vô hoạt vi khuẩn.   (Culp/Wesner/Culp, 1986). Kể từ năm 1986, có hàng trăm tài liệu được công bố xác nhận tính ưu việt của HCLO so với OCl-  (tham quan cơ sở dữ liệu nghiên cứu ).
Khó khăn lớn nhất là tạo ra axit hypoclorơ ở gần mức pH trung tính thay vì tạo ra khí clo hay hypoclorit và thực hiện ở dạng ổn định. axit hypoclorơ là phân tử giả bền. Phân tử này luôn muốn trở lại thành nước muối hoặc chuyển thành hypochlorite. 
 

Công nghệ Tế Bào Đơn 

Một trong những tiến bộ lớn nhất là sự phát triển của công nghệ Tế Bào Đơn trong đó dòng clo tự do đơn được tạo ra mà không có sản phẩm phụ là natri hydroxide (NaOH). Công nghệ này đã đưa đến sự phát triển các dung dịch axit hypoclorơ ổn định hơn và cho phép việc kiểm soát lớn hơn đối với pH của clo tự do được tạo ra.  Vì độ pH của nước khác nhau tùy thuộc vào nguồn nước trên toàn thế giới, thay đổi độ pH của nước muối cho phép việc kiểm soát tốt hơn và nhất quán hơn trong quá trình tạo dung dịch clo tự do giữa pH 5 và pH 7 với ưu thế của axit hypoclorơ (HCLO). 
 
Hóa học Quá trình Điện phân Tế Bào Đơn 
 
Phản ứng Anode :
2Cl-(l) → Cl2(g) + 2e-

Phản ứng Cathode :
2H2O(l) + 2e- → H2(g) + 2OH- (aq)

Tạo ra Chlorine Tự do :
Cl2 (g) + H2O → HCLO + HCl
Cl2 (g) + 2OH-(aq) → OCl- (aq) + Cl-(aq) + H2O(l)

Tính sinh lý học
Axit hypoclorơ được biết đến là chất diệt khuẩn hiệu quả nhất. Cấu trúc hóa học của HCLO được tạo ra từ hệ miễn dịch của con người để tiêu diệt các vi sinh vật xâm hại và chống nhiễm trùng.Bạch cầu trong hệ miễn dịch tạo axit hypoclorơ nhờ quá trình peroxy hóa ion clorua với sự tham gia của enzym myeloperoxidase là chất xúc tác.Bạch cầu sản xuất chất oxi hóa tự nhiên để chống lại các mầm bệnh gây hại.
 
Peroxy hóa ion clorua với sự tham gia của enzym myeloperoxidase là chất xúc tác
 
Khi có vết thương trên da người, đó là cửa ngõ của các mầm bệnh nguy hiểm xâm nhập vào tế bào. Neutrophils, một dạng của bạch cầu, di chuyển trong máu đến khu vực bị thương nơi có mầm bệnh xâm hại. Khi có mầm bệnh xâm hại hoặc nhiễm trùng đe dọa tế bào con người, hệ miễn dịch trong cơ thể phản ứng bằng cách tiêu diệt mầm bệnh trước khi nó có thể gây hại đến tế bào.Các mầm bệnh xâm nhập bị bạch cầu bao vây qua một quá trình gọi là thực bào.Khi bị bao vây, bạch cầu sản xuất chất oxi hóa là axit hypochlorous.axit hypoclorơ là chất diệt khuẩn và diệt các vi khuẩn gây bệnh trong vài phần nghìn giây khi tiếp xúc.Quá trình kháng khuẩn này được gọi là Quá trình Nổ Oxy hóa.
 
Thực bào bởi Bạch cầu trung tính

Axit hypoclorơ được tạo ra như thế nào?

 

Axit hypoclorơ được tạo thành khi clo (Chlorine) tan trong nước, vì thế ta có thể sản xuất HClO bằng quá trình điện phân qua dung dịch nước mặn. Công nghệ này đã được phát hiện từ những năm 1970.

Nguyên lý tạo ra HClO

Axit hypoclorơ được tạo thành khi clo (Chlorine) tan trong nước. Phân tử Chlorine tự do có sẵn (FAC) là clo không gắn kết, có ba dạng Chlorine tự do có sẵn: khí clo, axit hypoclorơ và hypoclorit. Giả sử ở nhiệt độ không đổi 25 độ C, độ pH dưới 3, clo tự do sẽ bốc hơi khỏi dung dịch thành khí clo. Khi pH trên 7.5, hơn 50% sẽ là hypoclorit (OCl-) và hypoclorit sẽ tăng khi pH tăng lên 14. Nếu pH được khống chế ở mức pH 3 – 7.5, dung dịch clo tự do sẽ bị axit hypoclorơ (HClO) chiếm ưu thế. 

 

Hoàn toàn Tự Nhiên và Không Độc hại 

Quá trình điện phân tạo ra HClO

Điện phân là kỹ thuật sử dụng dòng điện một chiều để điều khiển phản ứng hóa học không tức thời. Các tế bào điện phân có thể tạo ra dung dịch clo (chlorine) tự do bằng cách cho dòng điện đi qua dung dịch HCl (clo hydrit) hoặc NaCl (natri clorit) và nước. Các chất oxi hóa axit hypoclorơ (HClO) và hypoclorit (OCl-) được hình thành ở cực dương. Bằng cách thay đổi độ pH của nước thành axit yếu đến trung tính (pH 3 – 7.5), axit hypoclorơ sẽ được tạo ra.

 

So Do 04
Hocl 300x267
HCLO diệt các mầm bệnh do vi khuẩn như thế nào?

Phân tử của Axit hypoclorơ được tạo ra từ máy điện phân là HClO. Phân tử này là độc nhất vì nó tích điện trung tính (không mang điện tích) còn Ion hypoclorit (OCl-) tích điện âm. 

 

Chất khử trùng và các mầm bệnh do vi khuẩn tương tác với nhau như nam châm. Nếu bạn để hai nam châm mang điện tích âm gần nhau, chúng sẽ đẩy nhau.

 

Ion hypoclorit (OCl- hay thuốc tẩy) và vi khuẩn đều tích điện âm và tương tác như hai nam châm tích điện âm đẩy nhau. Còn Axit hypoclorơ (HClO) không tích điện và không chống lại vi khuẩn, nhưng cũng nhờ vậy HClO dễ dàng thẩm thấu, thâm nhập vào màn vi khuẩn và tiêu diệt chúng nhờ khả năng oxi hóa mạnh.

Tại sao HClO lại hiệu quả hơn trong việc tiêu diệt các tác nhân gây bệnh?

Axit hypoclorơ di chuyển nhanh chóng, có khả năng oxy hóa mạnh hơn Ion hypoclorit nên có thể oxy hóa vi khuẩn trong vài giây, trong khi có thể mất đến nửa giờ để Ion hypoclorit làm như vậy.

 

Axit hypoclorơ không mang điện tích trong khi Ion hypoclorit (OCl-) tích điện âm. Bề mặt vi khuẩn mang điện tích âm nên tạo lực đẩy, Ion hypoclorit cũng có điện tích âm, điều này làm cho Ion hypoclorit kém hiệu quả hơn khi tiêu diệt mầm bệnh. Trong khi, Axit hypoclorơ thiếu điện tích cho phép nó thâm nhập xuyên qua các màng bảo vệ của vi khuẩn tốt hơn.

 

Tỷ lệ của hai hợp chất được xác định bởi độ axit tương đối (pH) của nước. Các chuyên gia xử lý nước có thể điều chỉnh độ pH để làm cho Axit hypoclorơ chiếm ưu thế hơn, vì như vậy sẽ có hiệu quả hơn trong việc tiêu diệt vi khuẩn.

 
 
Công nghệ tạo Axit hypoclorơ?

 

Axit hypoclorơ có thể được sản xuất bằng quá trình điện phân. Việc xây dựng một hệ thống sản xuất dung dịch clo tự do bị phân tử Axit hypoclorơ (HClO) chiếm ưu thế hơn Natri hypoclorit (NaOCl-) là một thách thức.  Việc phát triển các tế bào điện phân để tạo nước điện phân trở thành đột phá sáng tạo lớn trong những năm 1970. Kể từ đó, tế bào điện phân có nhiều cải tiến để tạo ra dung dịch clo tự do G62N 99% Axit hypoclorơ và ổn định. 

 

Lịch sử điện phân

 

  • Michael Faraday tìm ra các định luật về điện phân và quá trình này trở thành thương mại từ những năm 1870.
  • Những năm 1970, các nhà khoa học đã phát triển công nghệ kích hoạt điện hóa (ECA) nước muối để sản sinh ra HOCl.
  • Công nghệ ECA những ngày đầu sử dụng màng để tách nước muối thành hai dung dịch của HOCl và NaOH.
  • Trong những năm 1980, các hệ thống dòng đơn được phát triển đã tạo ra dung dịch HOCl không có sản phẩm phụ.
  • Gần đây, những hệ thống này được nâng cấp để tuổi thọ lâu hơn và tạo ra dung dịch ổn định hơn. 
 
 
P3 Pic1

01 > Phát minh điện phân

Điện phân là sự chuyển dòng điện trực tiếp qua chất ion, được Michael Faraday giải thích lần đầu vào thập niên 1830. 

P3 Pic2

02 > Điện phân màng

Điện phân màng tạo axit HClO mạnh và sản phẩm phụ kiềm (alkaline) của NaOH từ dung dịch NaCl (muối ăn trong nước). 

P3 Pic3

03 > Điện phân tế bào đơn

Công nghệ Tế Bào Đơn được phát triển để tạo ra dung dịch HClO ổn định hơn tại điểm pH tối ưu không có các sản phẩm kiềm (alkaline) phụ của NaOH. 

Công nghệ tạo ra Axit hypocloro ổn định tiên tiến nhất
 
Khó khăn lớn nhất là tạo ra Axit hypoclorơ ở gần mức pH trung tính thay vì tạo ra khí Clo hay Hypoclorit và thực hiện ở dạng ổn định. Axit Hypoclorơ là phân tử giả bền. Phân tử này luôn muốn trở lại nước muối hoặc chuyển thành Hypochlorite. 
 
Một trong những cải tiến gần đây là việc phát triển Công nghệ tế bào đơn thay thế Công nghệ màng tế bào, cho phép sản xuất chỉ một dòng dung dịch có pH gần trung tính. Công nghệ trước đây sử dụng màng và áp suất cao để tạo hai dòng bao gồm Anolyte không bền của Axit hypoclorơ và Catholyte không bền của Natri hyroxide. Với sự phát triển của công nghệ tế bào đơn, có thể sản xuất dung dịch bền chỉ có Anolyte từ đó tạo ra dung dịch Axit hypoclorơ bền gần 99%.  
Hocl 300x267
Công nghệ MÀNG TẾ BÀO
Tế bào điện phân có hai ngăn được phân chia bởi màng, ngăn anode và ngăn cathode Màng được làm từ polymer cho phép ion mang điện tích dương chạy qua ngăn cathode. Dung dịch được bơm vào ngăn anode. Ion natri mang điện tích dương chạy qua màng hướng vào phía cathode nhưng ion clo mang điện tích âm thì không. 
Hai dung dịch được tạo ra, anolyte và catholyte. Phía anode, tạo ra dung dịch axit hypoclorơ có tính axit mạnh với ORP>800 mV. Phía cathode, tạo ra dung dịch NaOH có tính kiềm mạnh với ORP <-800. Không dung dịch được tạo ra nào bền. Cả anolyte và catholyte tìm cách trở lại cân bằng. Cả hai dung dịch nhanh chóng mất ORP. 
 
 
Công nghệ tạo ra axit hypoclorơ đã phát triển rất nhiều trong vòng 20 năm qua. Đã có lúc, thị trường bị thống trị bởi điện phân màng tế bào sử dụng áp lực cao để đẩy nước mặn vào hai dòng riêng biệt, một dòng có tính axit và một dòng kiềm. Dòng axit có chứa axit hypoclorơ (HClO), chất anolyte hoặc chất oxy hóa, và dòng kiềm sẽ chứa natri hydorixde (NaOH), chất catholyte hoặc chất khử. Lợi ích của các hệ thống này là hai dung dịch có ích đã được tạo ra, một chất khử trùng và chất tẩy nhờn. Nhược điểm của các hệ thống này là đắt đỏ, yêu cầu bảo trì cao và sẽ tạo ra các dung dịch không ổn định làm mất tiềm năng oxi hóa – khử (ORP) trong một khoảng thời gian ngắn. 
Công nghệ TẾ BÀO ĐƠN
Điện phân Tế Bào Đơn tạo ra chỉ một dung dịch, anolyte của axit hypochlorous. Các tế bào điện phân có chỉ một ngăn chứa cả cực dương và cực âm và được thiết kế để tạo ra một dung dịch duy nhất với ORP> 800. Sử dụng nước muối axit hóa, dung dịch clo tự do từ trung tính đến axit được tạo ra với axit hypoclorơ chiếm ưu thế. Dung dịch HClO vẫn ổn định và các phân tử HClO chỉ bị khử hoạt tính khi tiếp xúc với bề mặt hữu cơ hoặc oxy trong không khí. 
 
 
Điện phân Tế Bào Đơn phát triển đã khắc phục nhiều trở ngại. Điện phân Tế Bào Đơn không sử dụng áp suất cao trên một màng do đó rất ít hoặc không cần bảo trì. Và bởi vì điện phân Tế Bào Đơn không đẩy nước muối vào hai dòng điện thế khử oxy hóa đối lập và pH đối lập, nên sẽ tạo ra một dung dịch ổn định hơn, một dung dịch mà quay lại trạng thái cân bằng. Các hệ thống Tế Bào Đơn chỉ tạo ra một dung dịch, một anolyte trong khoảng pH từ 5 đến 7. Khoảng pH này là tối ưu cho axit hypoclorơ xét đến sự ổn định và là chất khử trùng hiệu quả. 

Các nghiên cứu khoa học?

 

Công dụng của clo trong khử trùng đã được nghiên cứu hơn 100 năm. Axit hypoclorơ mang lại đặc tính khử trùng cao hơn nhiều so với Natri hypoclorit (thuốc tẩy clo) là một thực tế không thể chối cãi.  Một trong những đơn vị sử dụng clo trong khử trùng nổi tiếng nhất là White’s Handbook of Chlorination. Tài liệu này giải thích toàn diện về tính chất hóa học và hiệu quả của clo và các chất khử trùng thay thế. 
 
Qua 30 năm nghiên cứu, việc sử dụng Axit hypoclorơ và nghiên cứu mới được công bố hành năm. Nghiên cứu gần đây tập trung vào việc sử dụng Axit hypoclorơ trong vệ sinh thực phẩm và thiết bị xử lý thực phẩm. Nghiên cứu cũng được thực hiện trên nông trại gia cầm, khử trùng và xử lý nước và các ứng dụng y tế như chăm sóc vết thương và khử trùng thiết bị.  
 
Tìm kiếm hơn 300 bài nghiên cứu đã công bố trong việc sử dụng hypochlorous acid tại đây.
TÌM KIẾM

ỨNG DỤNG

Chăm sóc sức khỏe 

 

Axit hypoclorơ (HClO) do bạch cầu sản xuất để bảo vệ chống lại các mầm bệnh do vi khuẩn xâm nhập. Khi các vi sinh vật gây bệnh cố gắng xâm nhập vào vết thương, các tế bào bạch cầu là đơn vị phản ứng đầu tiên và tiêu diệt vi khuẩn tiếp xúc với chất diệt khuẩn HClO. Vì HClO không gây kích ứng, lại dịu nhẹ trên da, nên có ý nghĩa trong việc chăm sóc vết thương. Ngoài ra, nó có thể thay thế tất cả các hóa chất vệ sinh thông thường được sử dụng để làm sạch trong các cơ sở y tế. Loại bỏ hóa chất độc hại không chỉ là việc làm có ý nghĩa mà còn mang đến một môi trường an toàn hơn cho trẻ em và người lớn tuổi. 

 

Vệ sinh tay và toàn cơ thể

Các dung dịch vệ sinh hóa học được phân phối dưới dạng đậm đặc là độc hại và có thể nguy hiểm. Khi tiếp xúc với da hoặc hít phải có thể gây ra dị ứng. Axit hypoclorơ không gây ra những rủi ro như vậy. Hệ thống điện phân tạo axit hypoclorơ được thực hiện từ muối ăn, nước và điện. Không cần thiết bị bảo hộ cá nhân. 

 

 

 

 

Rửa mặt, súc miệng, làm sạch vết thương

Axit hypoclorơ không gây ra kích ứng cho mắt và da. Thậm chí nếu nuốt phải cũng không gây hại.  Nhờ an toàn nên Axit hypoclorơ là chất khử trùng lý tưởng để khử trùng thực phẩm trực tiếp và các bề mặt tiếp xúc thực phẩm. Axit này cũng lý tưởng trong việc chăm sóc sức khỏe, dùng để làm sạch vết thương, thuốc nhỏ mắt, khử trùng phòng bệnh nhân thay thế các chất hóa học độc hại như thuốc tẩy và hợp chất amôni bậc 4 (quaternary ammonium). 

An toàn thực phẩm 

 

Phần lớn các nghiên cứu đã được thực hiện liên quan đến các ứng dụng thực tiễn của axit hypoclorơ trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. Kể từ khi Luật hiện Đại hóa An toàn Thực phẩm (FSMA) được ký ban hành vào năm 2011, trọng tâm của an toàn thực phẩm đã chuyển từ ứng phó sang ngăn chặn nhiễm bẩn. Có lẽ không có chất khử trùng thực phẩm nào được nghiên cứu và hiểu rõ hơn so với axit hypoclorơ. Nghiên cứu đã chứng minh rõ ràng rằng axit hypoclorơ là an toàn và hiệu quả để đảm bảo duy trì số lượng vi sinh vật trên bề mặt thực phẩm và bề mặt tiếp xúc dưới mức độ lây nhiễm.

 

Vệ sinh bề mặt và thiết bị

Axit hypoclorơ so với hợp chất amoni bậc 4(Quaternary Ammonium). Axit hypoclorơ có lợi thế hơn các hóa chất như Amoni bậc 4 khi vệ sinh bề mặt tiếp xúc với thực phẩm vì các chất này không an toàn trong thực phẩm. Trước khi làm sạch với Amoni bậc 4, phải đưa tất cả thực phẩm ra ngoài khu vực. Điều này là không cần thiết khi sử dụng axit hypochlorous. Axit hypoclorơ có thể được sử dụng liên tục suốt ngày làm việc bất kể thức ăn có bị phơi nhiễm hay không. 
 

Vệ sinh thực phẩm trực tiếp 

Axit hypoclorơ so với Ozone thì Axit hypoclorơ có lợi thế hơn ozone. Ozone là chất khí và không ổn định trong dung dịch, do đó không thể sử dụng ozone để khử trùng bề mặt tiếp xúc. Ozone được sử dụng cho vệ sinh thực phẩm, tuy nhiên cần phải liên tục tái sinh do thường xuyên phân tán vào không khí. Vì là chất gây kích ứng cho phổi và hệ hô hấp, nồng độ ozone được phép sử dụng bị hạn chế, do đó hạn chế khả năng oxy hóa cần thiết để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh. Axit hypoclorơ không gây kích ứng và cũng ổn định trong dung dịch. Axit hypoclorơ có thể được sử dụng ở nồng độ cao (60 ppm) để vệ sinh thực phẩm mà không cần phải rửa lại. 

 

Hocl 300x267
Sử dụng HClO tại nhà

Hệ thống điện phân tại nhà 

Một số hệ thống điện phân tại nhà đã được phát triển để có thể tạo ra Axit hypoclorơ ổn định bằng cách sử dụng muối ăn và nước. Một ít giấm chưng cất đôi khi được thêm vào để giảm pH, cho phép phân tử Axit hypoclorơ chiếm ưu thế hơn trong dung dịch clo tự do. Yếu tố quan trọng cần xem xét khi chọn hệ thống điện phân tại nhà là chất lượng của tế bào điện phân. Các hệ thống chất lượng cao hơn có thể tốn kém hơn nhưng thời gian sử dụng sẽ lâu hơn nhờ vào độ bền của các hợp kim được dùng để tạo ra các tế bào. 

 

Lợi ích là gì? 

Không giống như thuốc tẩy clo, Axit hypoclorơ 100% an toàn và không gây kích ứng. Bạn sẽ không bị bỏng cho dù bị dính vào da hay mắt. Ngay cả khi nó vô tình bị nuốt vào, hoàn toàn vô hại. Tuy nhiên, HClO có hiệu quả tiêu diệt các mầm bệnh vi khuẩn hơn thuốc tẩy clo đến 70-80 lần. 

 

Có thể sử dụng HClO ở đâu? 

Trong nhà, Axit hypoclorơ rất hữu ích ở bất cứ nơi nào bạn cần một chất khử trùng nhưng lại không cảm thấy thoải mái khi sử dụng hóa chất độc hại. Một ví dụ hoàn hảo là trong nhà bếp. Thay vì rửa rau xanh bằng nước, hãy sử dụng Axit hypochlorơ. Hoặc đối với các vật dụng cá nhân như bàn chải đánh răng hoặc dao cạo, sử dụng Axit hypoclorơ là rất an toàn. Muốn vệ sinh quần áo mà không làm hỏng hoặc đổi màu quần áo, Axit hypoclorơ sẽ là câu trả lời. 

các ưu điểm của axit hypoclorơ

P2 Pic4

 

Diệt khuẩn hiệu quả

HClO cho hiệu quả khử trùng nhanh, mạnh so và ổn định hơn với các chất khác (gấp 80 lần Natri hypoclorit) tiêu diệt được nấm men, vi khuẩn, trực khuẩn và cả vi rút.

P2 Pic5

 

An toàn cho da và mắt

HClO không gây độc hại và nguy hiểm cho con người khi hít phải, cũng không gây kích ứng mắt và da, an toàn để rửa tay, khử trùng toàn thân và vật dụng của trẻ nhỏ.

P2 Pic6

 

Ít ảnh hưởng đến vải vóc

HClO an toàn và lành tính, ít tác dụng lên vải vóc hơn so với thuốc tẩy clo. Thích hợp sử dụng khử trùng quần áo, thiết bị và dụng cụ trong sản xuất thương mại, nông nghiệp.

P2 Pic3

 

Thân thiện với môi trường

HClO được làm từ muối, hầu như không còn tồn tại trong tự nhiên và trở thành nước muối thông thường khi tiếp xúc với vi khuẩn  hay các chất hữu cơ.

Giấy kiểm nghiệm chất lượng

 

Viện truyền nhiễm quốc gia Nhật Bản đã chứng minh nước Axit hypoclorơ có hiệu quả lâm sàng trong việc tiêu diệt vi khuẩn, trực khuẩn bào tử và vi rút. Cơ quan kiểm dịch Mỹ cũng đã xác nhận khả năng tiêu diệt chủng Coronavirus / Covid-19. Tại Việt Nam, nước khử trùng HClO này cũng đã được lấy mẫu kiểm nghiệm tại Viện Pasteur TP.HCMTổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam cho thấy khả năng diệt khuẩn đến 99,99%.

Trung Tâm Kiểm Soát Dịch Bệnh Tỉnh Giang Tô Tq

Trung tâm báo cáo dịch bệnh tỉnh Giang tô, Trung Quốc

Xem chi tiết

Thông Báo Chính Thức Osg Hocl Diệt Trừ Covid 19

Thông báo về khả năng tiêu diệt COVID-19 từ OSG

Xem chi tiết

Pasteur Pg3 02

Viện Pasteur TP.HCM

Xem chi tiết

Tt3 Pg3 01

Tổng cục đo lương tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam

Xem chi tiết

SẢN PHẨM TẠO NƯỚC KHỬ TRÙNG AXIT HYPOCLORƠ

Buồng khử trùng

OSG P3

Máy tạo nước khử trùng

PROPERLY GUARD PG-3.0

Máy tạo nước khử trùng

WELL CLEAN-TE NEO NDX-40KMN

Máy tạo nước khử trùng

WELL CLEAN-TE PLUSNDX-65KM

Máy tạo nước khử trùng

AQUACID NDX-70KMW

Máy tạo nước khử trùng

SERIUS NDX-1500PLB